BN T.K.N
sinh con lần 2, đẻ mổ vì vết mổ cũ, trẻ sinh đủ tháng, nặng 3400gr, quá trình
mang thai không có gì bất thường. Sau sinh, trẻ hồng hào, khóc to, ăn bú mỗi
bữa 5-10 ml/bữa, nôn trớ ít, phản xạ bú tốt.
Gia
đình chăm sóc thấy trẻ càng ngày càng bú ít hơn, nôn trớ nhiều hơn. 10 giờ sau
sinh trẻ vào viện trong tình trạng bú kém, nôn trớ nhiều, bụng chướng nhẹ, đã
ỉa phân su, xét nghiệm có tình trạng nhiễm khuẩn sơ sinh sớm (BC 31,05 G/l; N 22,47
G/l). Trẻ được đặt sonde dạ dày theo dõi, nuôi dưỡng tĩnh mạch (Glucose 10%),
dùng kháng sinh (Amapower, Gentamicin).
Trong
quá trình chăm sóc trẻ vẫn nôn trớ nhiều mỗi lần cho ăn thêm hoặc khi thay đổi
tư thế, miệng có nhiều dãi, bụng chướng hơi nhiều hơn, dịch rút từ sonde là
dịch sữa không tiêu lẫn bọt. Kết quả chụp X-quang ngực thấy sonde dạ dày cuộn
lại đi ngược lên vùng hầu họng, bụng nhiều hơi. Chụp Xquang có uống thuốc cản
quang cho thấy hình ảnh túi cùng thực quản, bụng rất nhiều hơi. Trẻ được chẩn
đoán: Teo thực quản có kèm theo rò khí-thực quản và chuyển phẫu thuật tại bệnh
viện nhi Trung Ương.
Teo thực quản là gì ?
Là
sự gián đoạn lưu thông của thực quản và thường có kèm sự thông thương bất
thường giữa thực quản và khí quản.
Teo
thực quản là dị dạng bẩm sinh thường gặp nhất của thực quản, tần suất gặp từ
1/4.500-1/3.000 trẻ sinh sống.
Hiện
nay mặc dù có những tiến bộ về phẫu thuật nối thực quản một thì và hồi sức
nhưng teo thực quản vẫn còn là một bệnh có tỉ lệ tử vong cao do thường kèm dò
khí thực quản gây viêm phổi hít.
Phân loại teo thực quản: tùy
theo sự tồn tại của đường dò và vị trí của nó. Phổ biến nhất là bảng phân
loại của Gross.
A: teo thực quản không
có dò (8%)
B: teo thực quản có dò
đầu gần thực quản – khí quản (< 1%)
C: teo thực quản có dò
đầu xa thực quản - khí quản (87%)
D: teo thực quản có dò
hai đầu thực quản – khí quản (< 1%)
E: dò thực quản - khí
quản không teo (dò dạng H) (4%)
F: hẹp thực quản
(<1%)
Chẩn đoán teo thực quản như
thế nào ?
- Nghi ngờ trước sinh: nếu siêu âm thấy đa ối, có hoặc không
thấy bóng hơi dạ dày.
- Sau sinh nghi ngờ nếu:
+ Tiền sử đa ối, có hoặc không thấy bóng hơi
dạ dày
+ Trào bọt ở miệng
+ Triệu chứng hô hấp khi cho ăn
+ Khó đặt ống sonde dạ dày
+ Có thể kèm theo dị tật hậu môn trực tràng
- Chẩn đoán xác định khi:
+ X-quang
ngực thẳng:
Ống thông dạ dày cuộn lại và đi ngược lên thực quản
Có bóng hơi dạ dày/ruột (khi có sự tồn tại của lỗ rò giữa khí quản và
đoạn xa thực quản)
+ X-quang
thực quản cản quang: thấy hình ảnh túi cùng thực quản.
Điều trị tại
khoa Sơ sinh trước khi chuyển tới đơn vị phẫu thuật:
-
Tư thế đầu cao 30 độ và nghiêng sang 1 bên
để tạo thuận lợi dẫn lưu dịch tiết.
-
Đặt ống Replogle cỡ 10 Fr vào
túi cùng thực quản
+
Đặt ống Replogle tốt nhất là qua mũi, đến
phần trên của túi cùng cho đến khi cảm thấy có lực cản (cách 10-12cm kể từ lỗ
mũi với trẻ đủ tháng). Sau đó rút ống nhẹ nhàng lên 1 cm và cố định. Nối với
máy hút áp lực 5-10 kPa.
+
Bơm rửa ống để tránh tắc lòng ống. Thay ống 10 ngày/lần hoặc hàng ngày nếu dịch
tiết nhầy đặc.
+
Nếu không có ống Replogle, đặt ống thông dạ dày cỡ 10 Fr vào túi cùng và hút mỗi 15 phút/lần.
-
Cho trẻ nhịn ăn uống hoàn toàn đường miệng,
duy trì dịch đường tĩnh mạch.
-
Dùng kháng sinh phổ rộng dự phòng viêm phổi hít.
*
Lưu ý: Nếu đã chẩn đoán Teo thực quản trước sinh:
- Cần tránh: Thông khí áp lực dương gồm thở mask, HFNC, CPAP và đặt nội
khí quản do gây tăng áp lực túi cùng, có thể gây tổn thương hô hấp hoặc hít qua
lỗ thông ở đầu xa túi cùng khiến bụng chướng hơi nhiều.
- Nếu có chỉ định thông khí, cần đặt
đầu ống NKQ càng gần carina càng tốt để giảm thiểu khí thoát ra qua lỗ rò. Áp lực
thông khí nên đặt càng thấp càng tốt.
- Nếu có
biểu hiện hô hấp nặng nề cần chuyển ngay lập tức đến đơn vị phẫu thuật.